Phận người phụ nữ gánh thuê


PN - Trong chuyến hành hương cùng đoàn du lịch lên đỉnh núi Tây Thiên (Tam Đảo, Vĩnh Phúc), chúng tôi có dịp theo chân những người phụ nữ gánh thuê, mới biết công việc của họ quá vất vả. Trên đôi quang gánh, những lễ vật nặng hàng chục ký theo họ "băng đồi, vượt núi" gần 15km để phục vụ việc tá lễ.

Chùa Tây Thiên quanh năm tấp nập người đi lễ, cầu nguyện. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt chúng tôi là những phụ nữ, với đôi quang gánh trên vai, mời gọi tha thiết: "Các anh để em gánh đồ lễ vật lên núi cho...".

Đoàn chúng tôi lên đỉnh núi Tây Thiên mang theo khoảng 30kg lễ vật, đồ ăn uống. Trong khi chị trưởng đoàn đang loay hoay tìm những "đấng nam nhi" để phân công xách đồ lên núi, thì một phụ nữ gầy gò, trạc tuổi 40 chạy tới cùng với đôi quang gánh trên vai: "Các cô, các chú ơi! Những đồ lễ kia không xách lên nổi đỉnh núi đâu, để tôi gánh lên cho, lấy giá phải chăng thôi...". "Giá bao nhiêu hả chị?". "Một trăm ngàn thôi các chú ạ”. "Sao đắt thế", một số thanh niên phàn nàn. "Không đắt đâu, đi rồi các chú mới biết!".
Cuộc "ngã giá” thành công. Thế là, người phụ nữ gánh thuê còng lưng theo chân chúng tôi leo dốc, vượt đồi lên đỉnh núi.

Lên được vài quãng đồi, khoảng hơn 1km, ai nấy đều ngả nghiêng, thở hổn hển vì quá mệt, tìm vội chỗ nghỉ tạm. Thế mà người gánh thuê vẫn miệt mài với công việc của mình, mặc cho những giọt mồ hôi lăn dài trên gò má sạm đen.

Chị tên Lưu Thị Kim, năm nay 41 tuổi, nhà ở dưới chân núi, làm nghề gánh thuê được gần 30 năm nay. Chị Kim cho biết, ngoài thời gian làm ruộng, hầu như ngày nào chị cũng có mặt nơi đây để tìm "mối" gánh thuê. Tôi hỏi: "Thế có ngày nào chị gánh hai - ba chuyến không?", chị trả lời ngay: "Sức đâu hả chú, một ngày chỉ gánh một chuyến là mệt lả rồi".

Chị Kim thổ lộ: "Làm nghề này khổ và vất vả lắm chú ạ, nhiều người nhìn qua cứ tưởng dễ kiếm tiền, nhưng chú cứ nhìn xem, đi bộ một mình còn mệt, huống gì... Nhưng, vì gia đình khó khăn, ba đứa con trong độ tuổi ăn học, nhất là phải lo cho đứa con đầu đang học đại học tại Hà Nội nên gắng vậy".

Đội hình gánh thuê tại chùa Tây Thiên hiện có khoảng 100 người, già có, trẻ có, nhưng chủ yếu là phụ nữ tuổi trung niên. Sáng sớm, họ tập kết ở chân núi, chờ khách đến để chào mời với hy vọng được thuê.

Leo dốc được non nửa chặng đồi, chúng tôi gặp một cô gái xinh xắn đang gồng hết sức để "bươn" lên một đoạn dốc cao. Cô tên Phạm Thị Tuyết (22 tuổi), đang học tại trường trung cấp kinh tế ở Tam Đảo - Vĩnh Phúc. Mẹ của Tuyết đã làm việc này gần 10 năm nay. Tuyết cho biết: "Em tranh thủ lên đây gánh thuê để lấy tiền trang trải việc học. Mệt lắm, nhưng phải cố gắng thôi...".

Mỗi người một cảnh, chị Nguyễn Thị Hiền (49 tuổi), chồng mất sớm, một mình phải bươn chải nuôi năm đứa con. Nhiều năm qua, ngày nào chị cũng thức dậy từ 3g sáng, túc trực ở chân núi thật sớm để hy vọng có thể được gánh thuê hai chuyến.

Gạt vội những giọt mồ hôi vã ra trên mặt, chị vừa nói vừa thở dốc: "Cả gia đình tôi trông chờ vào quang gánh này chú ạ”. Nói chưa dứt câu, chị đã vội vã với quang gánh trên vai, mong cho kịp giờ để nhận thêm chuyến nữa.

Nguyễn Xuân Hưng

ĐĐ. Thích Tâm Mẫn "nhất bộ, nhất bái" đã vượt 487km!

(GNO-Khánh Hòa): Tính đến ngày 10-10-2009, vào lúc 16 giờ, tại dốc Đá Trắng, xã Ninh Thọ, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; ĐĐ. Thích Tâm Mẫn đã “Nhất bộ, nhất bái” được 487km. Tại khu vực dốc Đá Trắng, một số Phật tử đứng rải rác hai bên đường đã thành kính chắp tay chứng kiến “nhất bộ, nhất bái” của thầy. Sau gần một năm phát nguyện xuất phát từ chùa Hoằng Pháp (Hóc Môn), ĐĐ. Thích Tâm Mẫn giờ đây diện mạo đã nhiều thay đổi: da đen sạm, vẫn đĩnh đạc trong từng bước lạy. Ngoài một vị thị giả đeo ba lô đi sát phía sau, còn có một đoàn Phật tử mặc áo tràng lặng lẽ đi theo và chắp tay niệm Phật. Có người tự nguyện thiết kế hai hàng đèn chớp phía sau và phía trước trên chiếc xe Honda chậm rãi đẩy theo bên ngoài lề để phát tín hiệu từ xa. Trên lộ trình bước, vái và lạy của ĐĐ. Thích Tâm Mẫn, có một Phật tử sắp xếp đặt những chiếc quạt vải vàng lớn trên mặt lộ để thầy bước qua và lạy.

ĐĐ. Thích Tâm Mẫn đang "nhất bộ nhất bái" đã tới khu vực tỉnh Khánh Hòa

Lần đi ngang TP.Nha Trang này, ĐĐ. Thích Tâm Mẫn đã đến đảnh lễ chư tôn túc BTS Phật giáo tỉnh Khánh Hòa, thăm và dâng hương tại chùa Từ Tôn (Hòn Đỏ). Khi đến di tích chùa Thiên Tứ tại Ninh Hòa, Đại đức đã lên ngọn đồi cao, nơi ngài Bồ tát Quảng Đức thành lập chùa, dâng hương, cùng Phật tử phát hoang cây cỏ đường lên chùa và thắp 1.000 ngọn nến trong đêm.

Hình ảnh hành trình và tâm nguyện của ĐĐ. Thích Tâm Mẫn trên lộ trình về Trúc Lâm Yên Tử sẽ hoàn tất sau 4 năm đã gây nhiều sự xúc động và ngưỡng mộ trong lòng Phật tử những nơi Đại đức đi qua. Chỉ có một điều nhỏ lưu ý vài vị Phật tử theo thầy là có những thái độ, lời nói chưa đẹp đối với những người chung quanh khi họ vô tình đứng trước lộ trình thầy đang đi hoặc ghi lại hình ảnh thầy. Những điều này nếu không điều chỉnh sẽ ảnh hưởng đến tình cảm mộ đạo của những người chung quanh trên hành trình của thầy Tâm Mẫn.

Tin, ảnh Trần Đức
Source: Giác Ngộ Online

Vấn Đề Uống Bia Rượu và Sử Dụng Các Chất Say

Kính thưa quý thính giả,

Vấn đề uống bia rượu và sử dụng các chất say là một nan đề của xã hội hiện nay, đặc biệt trong giới trẻ. Vì thế trong chương trình phát thanh hôm nay, chúng tôi xin trình bày về giới răn thứ 5 trong Phật giáo. Đó là giới không uống rượu và không sử dụng các chất làm mất sự sáng suốt của tâm trí.

Có một câu chuyện ẩn dụ như sau:

"Vào thời kỳ đức Cổ Phật Ca Diếp xa xưa, có một cư sĩ thọ trì Ngũ Giới, giữ gìn rất nghiêm túc. Một hôm, từ tỉnh xa trở về nhà, đang lúc quá khát, khô cả miệng, nhìn thấy trên bàn có một chén đầy lóng lánh như nước, ông ta vội bưng lên uống thẳng một hơi, -- thế là ông phạm giới uống rượu. Uống xong, ông ta lăn ra ngủ. Lát sau rượu ngấm, men rượu bốc lên bừng bừng, ông vùng dậy nhìn ra ngoài sân. Lúc đó có con gà nhà hàng xóm chạy qua, ông bèn chụp bắt , -- thế là ông phạm thêm giới ăn cắp. Trong tay có con gà rồi, ông chạy vào nhà bếp cắt cổ vặt lông nó tính nấu cháo ăn, -- thế là ông phạm thêm giới sát sinh. Bà hàng xóm mất gà chạy sang tìm. Hơi men đang bốc, ông ôm ngay bà vào lòng tính chuyện hành lạc, -- thế là ông phạm thêm giới tà dâm. Chòm xóm xúm lại bắt ông lên công đường nhờ quan xét xử. Ông bèn chối bay, -- thế là ông phạm thêm giới vọng ngữ. Chỉ vì một chén rượu mà ma men làm hại đến nỗi ông ta phạm liên tục một hơi đủ 5 giới răn của nhà Phật.

Thưa quý thính giả,

Đạo Phật là đạo Giác Ngộ. Yếu tố chính để một người có thể vững vàng đi trên con đường tu hành tiến tới giác ngộ giải thoát là tinh thần của người hành giả phải sáng suốt, mới có thể biết nhận định phân biệt giữa chánh và tà, không mơ hồ, mê muội, tin theo những điều sằng bậy. Từ sự suy tư, phân biệt chánh tà rõ ràng, người hành giả mới có niềm tin chính đáng để dấn bước trên con đường Bát Chánh, tiến được tới mục tiêu giác ngộ.

Đức Phật là một bậc Đại Giác. Trong việc chế Giới, Ngài không tự ý áp đặt một cách độc đoán, mà chỉ nương theo những sự kiện đã xảy ra trong đời sống thực tế, rút tỉa kinh nghiệm rồi thiết lập những Giới răn để tránh cho các hàng Phật tử khỏi bước vào những sự lầm lạc trên con đường thanh lọc bản thân. Bởi vì Ngài đã chứng kiến những cảnh tượng say sưa khiến cho đầu óc con người trở thành mê muội, hành động mất tự chủ, nên Ngài đã chế Giới Không Uống Rượu. Người giữ giới này không những không uống rượu, mà còn không khuyến khích người khác uống và không buôn bán rượu nữa. Đây là giới thứ năm của đạo Phật.

Trong kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt, Phật tuyên bố sự nghiện rượu là một trong sáu nguyên nhân làm cho tan cửa nát nhà.

Đức Phật nói: "Này Gia chủ, đam mê các loại rượu có sáu nguy hiểm. Tài sản bị tổn thất, hay gây tranh cãi, mắc nhiều bệnh tật, danh dự thương tổn, quần áo hở hang, trí lực bị tổn hại. Này Gia chủ, nghiện các loại rượu có sáu nguy hiểm như vậy" .

Cũng trong kinh Phật, có chuyện chàng thanh niên nhà giàu Da- na- set - tin phung phí một số tài sản rất lớn trong việc rượu chè, đến nỗi khi về già phải ăn mày để kiếm sống qua bữa. Tệ nghiện rượu, say rượu là đầu mối của rất nhiều thảm họa gia đình, vợ chồng cãi nhau, đánh nhau, con cái hư hỏng. Người say rượu không còn biết phải trái, có thể phạm đủ mọi tội ác, kể cả giết người.

Thưa quý thính giả,

Tại các quốc gia Tây Phương hiện nay, một trong những nguyên nhân hàng đầu khiến người trẻ thiệt mạng là nạn lái xe trong khi tâm trí bị ảnh hưởng bởi rượu hoặc bia. Ngoài ra, cũng có một số cô cậu trẻ khi say làm những điều nguy hiểm đến tính mạng của chính mình hay gây thiệt hại cho người khác để rồi phải ngồi tù, tiêu hủy cả tương lai tươi sáng. Rượu hoặc bia còn khiến người ta phạm nhiều tội ác khác, học hành kém cỏi tại trường lớp, hay gặp khó khăn trong vấn đề tâm lý, cảm xúc và giao tiếp trong xã hội.

Một cuộc khảo cứu gần đây được thực hiện trên toàn nước Hoa Kỳ nơi học sinh cấp ba tức là các em trong tuổi từ 14 đến 18, cho thấy có tới hơn 90 % các em thú nhận rằng đã từng uống rượu hoặc có nếm thử rượu. Nhưng không phải chỉ các em học sinh cấp 3 uống rượu mà những em nhỏ hơn cũng đã nếm thử rượu. Theo thống kê cho biết Hoa Kỳ ngày nay có khoảng 5 triệu các em dưới 18 tuổi có thói quen uống rượu hoặc bia và có khoảng 3 triệu em bị bệnh nghiện rượu.
Một số các em còn ít tuổi lại có quan niệm sai lầm rằng uống rượu là biểu tượng của người đã trưởng thành, cũng như khi xưa có một số người thường khuyến khích nhau uống rượu, cho là "Nam vô tửu như kỳ vô phong", (đàn ông không uống rượu như cờ không có gió). Thật ra thì chất rượu hoặc bia chỉ tạo ra một cảm giác sai lạc về vấn đề tự tin. Chẳng hạn như khi uống rượu, người ta sẽ có thể làm khác những gì họ vẫn làm khi tỉnh táo. Ví dụ như có thể nhấn ga chạy xe với tốc độ rất cao làm mọi người kinh hoảng, hoặc dám lao mình xuống biển lúc đêm khuya, v.v.. . Sự hung hăng khi trong người có chất rượu chỉ là ảo giác, do chất men say tác động vào hệ thần kinh, khi tỉnh lại, nhớ lại chuyện mình làm trong lúc say sưa chỉ khiến cho đương sự cảm thấy mắc cở, mất đi niềm tự tin mà thôi.

Mặc dù sự uống một vài loại rượu nhẹ, thí dụ rượu vang đỏ, với liều lượng ít thì cũng có khả năng giúp kích thích thần kinh và mạch máu, có phần nào tốt. Nhưng nếu uống nhiều, uống hằng ngày thì lợi bất cập hại, dù rằng không uống đến mức độ say. Một tờ tạp chí Y Học của Anh cho biết, người uống bia hằng ngày có nguy cơ bị ung thư đường ruột gấp 12 lần người không uống bia. Phụ nữ có thai mà uống rượu thì dễ bị sanh non và em bé dễ bị đau màng óc. Uống rượu cũng gây tác hại đến tế bào óc, dù là đối với người lớn.

Lâu nay người ta thường nghĩ rượu chỉ gây "cháy gan, cháy phổi" , có nghĩa là chỉ làm hư gan, xơ gan, hư phổi. Nhưng thực chất rượu không chỉ gây độc cho gan, phổi mà nó còn rất độc đối với hệ thần kinh trung ương, làm hủy hoại tế bào não. Vì vậy uống rượu càng nhiều, liều lượng càng cao thì sự tác hại vào bộ não càng nặng. Cũng vì rượu có khả năng làm hại tế bào não nên mới có hiện tượng say sưa, nói năng huyên thuyên, chứng tỏ bản thân không còn ý thức được hành vi trong khi say rượu.

Vào thời Phật tại thế, người ta chưa lạm dụng các chất ma túy, các loại thuốc kích thích có tác dụng làm thay đổi phản ứng của bộ máy thần kinh như ngày nay, mà chỉ có rượu là chất say sưa được sử dụng trong những cuộc vui chơi đàn đúm mà thôi. Ngày nay tình thế đã khác, người ta đã dùng tới những chất độc hại cho bộ máy thần kinh hơn rượu rất nhiều, thí dụ như cần sa, ma túy, thuốc phiện, marijuana, bạch phiến, thuốc lắc, hoặc chất nicotine trong thuốc lá. Cho nên chúng ta cần nhớ lời Phật dạy trong kinh Đại Bát Niết Bàn, nơi Pháp Tứ Y, có câu :"Y nghĩa bất y ngữ", tuy Giới cấm thứ Năm chỉ nói về rượu, nhưng chúng ta phải hiểu "nghĩa" trong lời Phật dạy là Ngài muốn chúng ta tránh xa các chất độc hại cho tâm trí. Thời đó, rượu là chất độc hại nhất, nhưng ngày nay, nếu Phật còn, Ngài cũng sẽ cộng thêm các loại cần sa ma túy vào danh sách các chất làm tiêu hủy thần kinh, làm con người trở thành mê muội, chặn đường tiến tới Giác Ngộ Giải Thoát.

Nói tóm lại, nếu chúng ta đã thọ trì Giới thứ Năm, Giới Không Uống Rượu, thì chúng ta cũng không dùng các chất ma tuý. Ngay như chúng ta chưa hề thọ trì Giới Không Uống Rượu, chúng ta cũng không nên say sưa, mà nên sống lành mạnh để làm gương tốt cho các em. Chúng ta cũng cần nhắc các em rằng đừng bao giờ nếm thử rượu, nếm thử marijauna, cocaine vì một khi đã biết mùi rồi, các em sẽ muốn nếm nữa, rồi các em sẽ trở thành ham mê lúc nào không hay. Những nhà sản xuất rượu biết rõ điều này nên tại những nơi làm rượu, người ta hay cho khách vào nếm thử mà không phải trả tiền. Đó là một cách để câu mồi, để lôi cuốn người không uống rượu trở thành khách hàng của họ. Ít có ai để ý tới một điều rằng hầu hết những người nghiện rượu và đang đau khổ vì rượu ngày hôm nay đều bắt đầu từ một lần uống thử.

Đức Phật là Đại Đạo Sư, Ngài chỉ muốn chúng ta bước trên những con đường tốt lành, những con đường của một đời sống nội tâm phong phú, một tâm hồn trong sáng và một cơ thể khỏe mạnh. Giới Cấm Uống Rượu là một trong những lời khuyên tha thiết của Ngài.

Thưa quý thính giả,

Để kết thúc buổi phát thanh về Phật pháp hôm nay, chúng tôi xin gửi tới quý thính giả một mẩu truyện được đăng trên Internet, đó là tự truyện do bà V.A. Bailey kể lại, được dịch ra như sau:

"Tôi vội vã chạy tới một cửa hàng bách hóa để quơ đại vài món quà Giáng Sinh vào giờ cửa tiệm sắp đóng. Nhìn đám người ùn lên phía trước, tôi vừa bực bội với sự trễ nải của mình vừa cố gắng xấn xổ vượt qua được đám đông chen chúc trong cái gian hàng đồ chơi trẻ con này. Giá mà tôi lăn kềnh được ra đây, ngủ thiếp đi, tỉnh dậy để phát hiện ra rằng ngày Lễ Giáng Sinh đã qua rồi thì hay biết mấy!

Bỗng nhiên, tôi nhận ra tiếng của chính tôi đang lẩm bẩm đọc giá tiền những món đồ chơi bày trên kệ và tưởng tượng cảnh mấy đứa cháu được ôm những món đồ chơi đó trong lòng. Thuận chân, tôi tiến về khu bán búp bê. Phía xéo với tầm mắt, tôi thấy một em bé trai trạc 5 tuổi đang ôm một con búp bê xinh xắn. Đứa bé nâng niu món đồ chơi trong vòng tay, còn tay kia thì cứ vuốt mãi lên mái tóc mềm như tơ của con búp bê. Tôi không thể dời mắt khỏi quang cảnh đó mà cứ chăm chú nhìn cậu bé, trong lòng thắc mắc không biết cậu ta giữ con búp bê đó cho ai vậy. Rồi tôi thấy cậu ta quay qua phía một phụ nữ đứng bên cạnh mà hỏi:
- Cô có chắc là số tiền của cháu không đủ để mua con búp bê này không?

Người cô trả lời, giọng có vẻ sốt ruột:
- Cháu biết là cháu không đủ tiền mua nó mà.

Rồi cô ta dặn cháu đừng đi đâu cả, phải đứng tại đó chờ cô ta đi mua mấy món đồ, sẽ trở lại trong vòng vài phút. Nói rồi cô đi khuất khỏi tầm mắt chúng tôi.

Cậu bé vẫn đứng đó tay ôm con búp bê. Ngập ngừng một chút, tôi cất tiếng hỏi cậu định mua con búp bê cho ai. Cậu bé trả lời:
- Đây là con búp bê mà em cháu thích được tặng vào dịp Giáng Sinh này lắm. Em cháu biết chắc là Santa Claus sẽ mang tới cho em.

Tôi bảo cậu bé:
- Có lẽ Santa Claus sẽ mang tới cho em cháu thật đấy.

Cậu bé lắc đầu:
- Không, Santa sẽ không thể tới được nơi mà em cháu hiện nay đang ở. Cháu phải đưa con búp bê cho mẹ cháu để mẹ mang tới cho em.

Tôi hỏi:
- Vậy em cháu ở đâu?

Cậu bé nhìn tôi bằng cặp mắt thê thảm nhất, trả lời:
- Em cháu đã về với Chúa. Bố cháu nói rằng mẹ cháu cũng sắp phải đi với em rồi. Tim tôi thót lại.


Cậu bé nói tiếp:
- Cháu dặn bố cháu nói với mẹ là mẹ đừng đi vội. Cháu dặn bố cháu nói với mẹ là hãy chờ cháu từ tiệm trở về.

Rồi cậu bé hỏi tôi có muốn coi hình của cậu ta không. Tôi nói rằng tôi rất muốn. Cậu ta lôi ra mấy tấm hình mà cậu mới chụp ở ngoài cửa tiệm, nói:
- Cháu muốn mẹ cháu đem theo mấy tấm hình này để mẹ không bao giờ quên cháu. Cháu yêu mẹ cháu lắm. Cháu ước gì mẹ cháu sẽ không phải rời bỏ cháu. Nhưng bố cháu nói rằng mẹ cháu cần phải đi với em cháu.

Tới đây, cậu bé lặng lẽ cúi gục đầu xuống. Trong khi cậu ấy không nhìn thấy, tôi thò tay vào ví lôi ra một nắm tiền giấy cuộn trong lòng bàn tay rồi đề nghị:
- Này, hay là chúng mình đếm lại tiền của cháu một lần nữa coi sao?

Cậu bé có vẻ phấn khởi:
- Dạ, cháu biết chắc là phải đủ mà.

Thế là tôi nhẹ nhàng tuồn nắm tiền trong lòng bàn tay tôi nhập vào với tiền của cậu bé và bắt đầu đếm. Dĩ nhiên là bây giờ thì số tiền dư sức để mua con búp bê. Cậu bé nhìn lên cao, cất tiếng nhẹ nhàng:
- Xin cảm ơn Chúa đã cho con đủ tiền mua búp bê.

Rồi cậu nói với tôi:
- Cháu vừa mới cầu xin Chúa cho cháu đủ tiền mua con búp bê này để mẹ cháu có thể đem theo cho em cháu. Chúa đã nghe thấy lời cầu xin của cháu. Cháu đã muốn xin đủ tiền để mua được hoa hồng bạch cho mẹ cháu nữa mà cháu lại không hỏi. Vậy mà Chúa lại cũng cho cháu đủ tiền để mua được cả búp bê cho em cháu và hoa hồng cho mẹ cháu nè. Mẹ cháu thích hoa hồng bạch lắm, cô à.
Người cô của cậu ta đã trở lại. Tôi cũng đẩy xe đồ của tôi đi luôn. Đầu óc tôi cứ bận bịu với hình ảnh cậu bé trong khi tôi tiếp tục mua sắm, nhưng tinh thần tôi bây giờ không giống như trước khi tôi gặp cậu ta. Tôi bỗng nhớ tới một câu chuyện đăng trên báo mấy ngày trước đây, câu chuyện về một người say rượu lái xe, tông vào xe kia làm cho một cô bé chết ngay và mẹ cô ta bị thương nặng. Gia đình người bị nạn đang bối rối trước quyết định có nên tháo bộ máy trợ sinh ra khỏi cơ thể bà ta chăng. Nhưng dĩ nhiên là cậu bé này chẳng liên quan gì đến câu chuyện đó cả, tôi tự nhủ thế.


Hai ngày sau tôi đọc báo thì biết được rằng gia đình người đàn bà trong tai nạn xe hơi đã quyết định tháo máy trợ sinh và bà ta đã chết. Tôi vẫn chưa quên câu chuyện cậu bé và cứ thắc mắc không biết hai chuyện có liên quan gì đến nhau không.

Chiều hôm đó, không nhịn được nữa, tôi đi mua mấy bông hoa hồng trắng và đến nơi quàn xác người đàn bà.

Thì ô kìa, nằm lặng lẽ trong bộ áo cuối cùng của cuộc đời, người đàn bà trẻ ôm trong tay một bó hoa hồng bạch cạnh con búp bê xinh xắn và trên ngực là tấm hình cậu bé chụp trước cửa tiệm bách hóa.

Tôi ra về với đôi mắt đẫm lệ, cuộc đời tôi thay đổi từ lúc đó. Tình yêu mà cậu bé thơ ngây dành cho em nhỏ và mẹ cậu ta mới thiêng liêng sâu sắc làm sao! Một tình yêu bao la như thế, đằm thắm như thế, mà chỉ trong thoáng chốc, một người say rượu, lái xe trong tình trạng tâm trí không sáng suốt, đã xé tan nát trái tim cậu bé ra thành từng mảnh.

Ban Biên Tập

www.thuvienhoasen.org

Màu Tím Hoa Sim - Hữu Loan


Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê...
Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con
đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa...
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...
Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu...

Hai Lần Chết - Thế Lữ

Tối hôm ấy, chúng tôi đi viếng một người bạn ở phố Hàng Bột mới từ trần. Lúc ra về đến giữa phố Sinh Từ thì trời đổ mưa, chúng tôi kéo cả lên nhà anh Tri. Tri bàn mọi người nên ngủ lại nhà mình để mai đi đưa ma cho tiện.Anh em lâu không họp mặt, chuyện trò đến hơn mười hai giờ đêm.

Câu chuyện dồn cả vào sự nghiệp và đức tính Đàm Văn Tâm, người thiệt mệnh.

Tâm là một thanh niên đặc biệt thông minh, có khiếu riêng về khoa học và đối với bạn là một người khiêm tốn và chân thành. Anh ta không lấy vợ, cha mẹ mất sớm, bao nhiêu của cải của ông chú ruột để lại cho chi dùng vào công cuộc khảo cứu mà chúng tôi biết là có giá trị. Tâm cùng cộng tác với anh Đinh Văn Mão, một người bạn học cùng hướng với anh ta. Sự nghiệp về khoa học của Tâm đang chừng có vẻ rực rỡ, thì bỗng không bệnh mà chết. Họ hàng không có, nên Mão đứng lên lo việc tang ma.

Cái chết đột ngột của một người bạn còn trẻ gây cho chúng tôi một thứ cảm giác phảng phất, lo sợ, nhất là vì đêm ấy lại mưa gió sụt sùi. Tính vui đùa của anh Tính cũng không làm bớt được lạnh lẽo, nặng nề trong gian phòng sáng bởi một cây đèn dầu hỏa.

Tính nói:- Chết sớm, càng được nghỉ sớm chứ sao?
-Anh thì anh chỉ thích nghỉ thôi. Giá có chết cũng không thiệt cho ai. Còn anh Tâm...
Tính gật đầu:- Phải. Quốc dân thiệt mất một nhân tài... Rồi lại tiếp luôn:- Nhưng sống khôn chết thiêng, hẳn ngài nhớ đến bọn ta, sẽ về phù hộ.
Một người bạn mắng:- Chỉ nói nhảm. Anh này việc gì cũng đem pha trò...
-Kìa! Pha trò đâu? Tôi nói thực đấy. Tâm chả nhiệt thành tin thuyết "Linh hồn hiển hiện" là gì? Phải không anh Ngôn?
Tôi đáp:- Phải. Tâm hay bàn về vấn đề ấy lắm. Có lần anh hẹn tôi rằng khi nào chết sẽ về báo hiệu cho tôi biết. "Tôi chết, tôi sẽ về gãi chân anh".
- Y như trong sách của Camille Flammarion ấy nhỉ?
- Mà không phải là câu nói đùa đâu!
Tính nói nửa thực nửa bỡn:- Nếu vậy, có lẽ anh Tâm sắp hiện lên giữa chúng ta...

Mọi người cùng cười thào lên một tiếng nhạt, rồi cùng ngồi im. Bên ngoài tiếng ướt át rì rào của mưa gió vẫn không ngơi. Tri ngẫm nghĩ thế nào chợt se sẽ nói:- ừ, thế ngộ anh Tâm hiện hồn lên bây giờ thì sao?

Nhưng câu ấy không có ai trả lời, rơi vào trong vực yên lặng mất. Bỗng nhà dưới có năm, sáu tiếng gõ cửa, tôi toan nói một câu, liền nín lại. Tiếng gõ cửa ra dáng gấp, và cứ mạnh thêm. Đức nói thầm:- Hay là anh... Tâm về...
Tôi:- Có lẽ nào?

Nhưng chúng tôi đồng lo sợ. Tiếng gõ nhà dưới ra chiều thúc giục - Tiếng cửa mở rồi khép, rồi một lát thằng nhỏ đi lên, vừa ngái ngủ, vừa thưa vào:- Thưa cậu, cậu Tâm lại chơi.
- Hử? Cậu Tâm nào?
- Thưa, cậu Tâm Hàng Bột.

Chúng tôi kinh ngạc nhìn nhau. Tri cau mày gắt:- Mày nói láo! Còn cậu Tâm nào ở Hàng Bột nữa? Sao mày không hỏi xem ai?
- Bẩm, chính cậu Tâm... Cậu đang đi lên.

Chúng tôi như gặp luồng gió lạnh, nhìn ra thấy anh Tâm thực. Tâm đứng ở khung cửa, đầu tóc bơ phờ, mặt mày ngơ ngác, mình mặc bộ quần áo trắng dài là bộ mặc cho anh ta lúc đặt nằm trong áo quan. Hơn một phút, chúng tôi không ai nói gì, ngồi đực ra như bị thôi miên. Sau, một người bạn đi đạo lấy tiếng dõng dạc hỏi:

- Nhân danh tình bằng hữu thiêng liêng của chúng ta, tôi xin hỏi vong hồn Đàm Văn Tâm có oan ức điều gì không?

Tâm, hay linh hồn hiển hiện của Tâm không đáp, cứ trân trân nhìn chúng tôi một lúc lâu. Tiếng dõng dạc lại hỏi lên lần thứ hai:- Nhân danh tình bằng hữu thiêng liêng... tôi xin hỏi vong hồn...

Thì Tâm bỗng đưa tay gạt đi, dịu nét mặt lại rồi thong thả nói:- Tôi không phải là vong hồn... vì tôi chưa chết.

Chúng tôi vẫn không hiểu. Tâm lại nói:- Phải. Tôi còn sống thực, có xương, có thịt, có máu chạy trong mạch... chứ không phải là một vật hư vô...

Rồi Tâm yên lặng tiến lên, nhìn mọi người một cách xoi mói, dò xét, rồi lại kéo một chiếc ghế ngồi. Chúng tôi bất giác ngồi giãn cả ra, thì Tâm buồn rầu, mỉm cười, nói:

- Không. Tôi không chết đâu, tôi chưa chết. Tôi muốn... tôi hỏi các anh: Tôi có thể tin ở sự kín đáo của các anh được không? Tôi có thể tin ở tình bằng hữu thiêng liêng của chúng ta mà anh Đào vừa nói, được không?

Chúng tôi trả lời:- Được. Nếu anh có oan uổng điều gì...

- Tôi đã bảo tôi còn sống mà! Sống như các anh, thực thể.

- ừ, chúng tôi muốn tin rằng thế, song anh Tâm đã chết thực, đã có giấy chứng nhận chôn, chúng tôi cũng đã đến viếng...

- Nhưng tôi chưa chết. Tôi ở trong săng dậy đây.

Yên lặng một phút. Sau tôi hỏi:- Thế còn anh Mão ngồi coi bên săng? Anh ấy đâu?

Tâm bóp trán thở dài. Bỗng anh ngừng phắt lên, hai mắt lóng lánh, đột ngột nói:- Mão chết rồi. Phải, chết rồi. Mà chính tôi, tôi, các anh nghe chưa? Tôi giết nó đấy...

- Sao lúc chập tối chúng tôi còn thấy anh Mão khóc, chúng tôi lại nhận rõ mặt anh trong săng?

- Nhưng tôi vừa giết Mão xong, giết vì bất bình, vì điên dại... Các anh hãy ngồi yên, tôi kể đầu đuôi cho nghe. Tôi thực là một người khổ sở hết sức!

Rồi Tâm ôm mặt se sẽ khóc trước năm bộ mặt kinh dị của chúng tôi. Một lúc lâu, anh ta mới lại nói:

- Tôi không ngờ đâu lại thấy những điều cay độc, mỉa mai đến như thế... Tôi tưởng phát điên lên mất,- không ngờ đâu lòng người mà lại đến thế. Các anh thử xét mà coi.- Các anh vẫn biết Mão với tôi là hai người bạn thân hơn ruột thịt, vì tôi thương anh ấy nghèo và chăm chỉ, lại muốn cùng theo đuổi một công cuộc với tôi. Chúng tôi thề suốt đời không lấy vợ, để đem hết tâm trí hy sinh cho khoa học. Trong hai năm trời Mão càng ngày càng tỏ ra một người có chí và hết lòng với bạn, nên tôi càng ngày càng yêu thêm. Tôi muốn cho Mão vững tin ở lòng thành thực của tôi, nên viết một tờ "chúc thư" để gia tài của tôi với sự nghiệp của tôi lại cho Mão. Đó là một điều gàn dở, nhưng trong lúc nồng nàn hăng hái ấy thì tôi có trông thấy xa đâu? Tôi có ý tỏ cho Mão biết rằng của tôi cũng như của anh ta, mà nếu bất hạnh tôi chết trước, thì bổn phận anh ta là phải đi cho tới mục đích bước đường mà tôi bỏ dở. Từ lúc tôi ký tờ giấy kia đến nay đã được hai năm rồi, không có điều gì hết. Mão vẫn yêu tôi, vẫn hết lòng làm việc với tôi như trước. Mà nếu rủi tôi chết sớm thì chắc Mão là người thương tôi hơn cả. Có ngờ đâu người bạn thân thiết ấy lại là một giống sài lang!

Năm năm về trước, nguyên tôi vẫn mang một chứng bệnh thần kinh, thường khi đang yên bỗng ngã lăn ra bất tỉnh. Nhưng từ khi ông chú tôi mất, bệnh ấy như khỏi đứt, tôi không để ý đến nữa - rồi quên bẵng đi. Bệnh đó tới nay lại phát khởi lên xem chừng nặng hơn trước nhiều lắm. Mấy ngày trước tôi thấy những triệu chứng thứ nhất và bắt đầu lo. Song tôi vì bận viết một bài khảo biện rất dài cho một tạp chí chữ Pháp, nên không kịp nói chuyện với Mão. Ba giờ sáng hôm qua, lúc buông bút đi ngủ, bỗng tối sầm mặt lại, ngã gục xuống rồi từ đó lịm đi...

Lúc mở mắt ra thì thấy mình bị ép hai bên trong một xó tối và khó thở, tôi định tâm vừa nghĩ vừa sờ soạng mãi mới biết là mình nằm trong săng. Nhưng trông lên thấy mờ mờ có ánh lửa soi vào hai bên nắp săng và lắng tai còn nghe thấy quả lắc đồng hồ tích tắc đưa chuông điểm. Tôi đoán rằng tôi ngất đi đã lâu lắm - vì bụng thấy đói dữ - có lẽ mọi người tưởng chết thực và đã cho mình vào săng sắp sửa đem chôn. Tôi nâng nắp săng thì thấy còn mở, bèn yên lặng ngồi lên. Lúc ấy mới biết là hơn mười hai giờ đêm. Mão đang xem một tờ giấy bỗng quay ngoắt kêu lên một tiếng khẽ. Tôi cười để cho hắn khỏi sợ và nói: "Tôi không chết đâu... Sống đây mà!"

Mão vẫn trừng mắt nhìn tôi. Thấy tôi cười nói tự nhiên và chờ anh ta nâng hẳn nắp săng đỡ tôi dậy, thì như đã hơi định thần, hắn nhìn tờ giấy mà tôi nhận ra là tờ "di chúc" rồi lại nhìn tôi. Bỗng nhiên hắn rảo bước lại bên chiếc quan tài, mắt long lanh một cách lạ thường, rồi nhanh tay ấn mạnh tôi xuống đậy nắp săng lại.

Trước tôi còn ngờ hắn hoảng hốt vì sợ hãi quá, sau bỗng nghĩ ra một điều rất ghê gớm: Mão muốn giết tôi. Phải rồi... tờ "chúc thư" mà hắn làm bộ không nói đến bao giờ... cái gia tài quan trọng của tôi... mà đối với mọi người thì tôi đã chết. Phải. Tôi chết là hắn được hưởng, mà tôi đã không chết thực thì hắn giúp tôi chết nhân thể, ai biết đấy là đâu?

Trong có một giây đồng hồ mà tôi cũng thoáng thấy được cái kế hiểm độc của bạn với cái tình thế nguy hiểm bấy giờ. Tôi căm giận không biết ngần nào, đấm nát tay lên cái nắp săng, nhưng cái nắp bật hé được lên lại bị ấn xuống. Chân tôi không bị buộc trói như thói thường trong lúc khâm liệm, nhưng không thể cử động được dễ. Bên ngoài, tôi nghe thấy tiếng chân vội vàng chạy xa dần. Tôi đoán chắc hắn đi tìm cái gì để đè lên mặt săng cho nặng thêm. Nhân cơ hội tôi thét lên một tiếng rất dữ, đạp một cái hết sức mạnh, nắp săng bật ra một chỗ, tôi ngồi dậy thì hắn đã tiến đến, cái ống tiêm thuốc độc cầm ở một tay. Tôi vùng đứng lên, vừa sợ vừa giận. Hắn bước tới, tôi liền níu lấy tóc, nghiến răng ấn đầu hắn xuống rồi nhảy xổ lại đè lên mình hắn: cái ống tiêm rơi xuống, vỡ tan ra. Hắn bị tôi cưỡi lên ngực, hai cánh tay bị dập dưới đầu gối tôi, và cổ bị hai bàn tay tôi thắt vào đến hai mươi phút. Tôi càng nhìn cái mặt thú vật của nó, cái bộ mặt mà mới hôm trước đây, tôi còn yêu quý, thì cơn giận cứ bốc lên mãi, tôi bóp ghì lấy cổ nó mà vẫn không rõ là mình làm gì. Lúc nó đã tắt thở rồi, tôi mới buông tay ra. Bấy giờ đúng mười hai rưỡi.

Tôi không sợ hãi, không hối hận, không vội vàng, vì không cho sự giết thằng khốn nạn ấy là một tội ác. Tôi xốc nó lên, bỏ vào săng đậy nắp lại tử tế, thu xếp ít tiền bạc, giấy má, định gieo thành một mối bí mật, rồi đi. Nhưng tôi nghĩ lại ngay, nên thuê xe đến gọi anh Tri kể cho anh nghe để cùng với anh khu xử việc này... Lúc tôi vào bước lên đây, trông thấy các anh, tôi thú thực rằng hơi có ý nghi ngờ các anh... đồng lòng với Mão. Bởi vì... các anh xét hộ, tôi bị một kẻ tâm giao độc nhất xử với tôi một cách ghê gớm như thế... làm cho tôi tưởng phát điên lên mất, tôi tưởng rằng ở đời này thế cả... họ thấy lợi là họ quên cả tình nghĩa... Các anh tha thứ sự nghi ngờ ấy cho tôi.

Tâm nói đoạn thở dài một tiếng rất cay đắng, gục đầu xuống sụt sùi. Chúng tôi ngồi lặng nhìn nhau... Đêm hôm ấy, chúng tôi không ngủ, sau bàn nên để anh Tâm ở yên một chỗ, dựa theo cái ý kiến mà Tâm đã nghĩ tới, xoay việc án mạng kia thành một thiên bí mật để không ai dò được manh mối ra sao. Chúng tôi làm như người ngạc nhiên trước nhất về chuyện này, đi trình các nhà chuyên trách đến khám xét chỗ ở của Tâm và thản nhiên, trả lời rất khéo những câu hỏi mà chúng tôi đã đoán biết từ trước. Bỗng nhiên, ngay sáng hôm ấy, đang khi tra vấn kỹ lưỡng thì anh Tâm lại lù lù hiện ra, nói rằng mình đi vơ vẩn suốt đêm, rồi đem kể hết đầu đuôi việc xẩy ra đêm trước.

"Tôi đã giết người, các ông dẫn ngay tôi vào ngục". Đó là câu nói sau cùng của anh ta.

Cuộc thẩm vấn, chúng tôi cố chạy cho mau chóng và rất công minh, nên một tháng sau, lúc ra tòa, Đàm Văn Tâm được trắng án. Chúng tôi cũng không được vui mừng lắm, vì Tâm vẫn giữ vẻ nhẫn nhục, rầu rĩ như hôm mới bước chân vào đề lao.Anh cám ơn công săn sóc của chúng tôi, rồi tự giam mình trong gian nhà phố Hàng Bột, nhất định không tiếp ai cả: sống ở đấy một cách yên lặng, kín đáo, bảo là một cách thầm vụng cũng được, như muốn cho người ta quên mình đi.

Một hôm, người đầy tớ già của Tâm đến nhà anh Tri nói rằng chủ mình đã hai hôm nay ở tịt trong phòng. Chúng tôi đến, phá cửa vào xem thì thấy anh ta gục đầu lên bàn trên một tờ chúc thư để của cải cho các viện tế bần, người lạnh ngắt và cứng đờ.

Lần này thì anh Tâm chết thật.

Rút từ tập truyện ngắn Bên đường thiên lôi, 1936
Nguồn: Việt Nam Thư Quán

Mê Tín và Lãng Phí trong mùa Vu Lan

Vu lan, lễ Báo hiếu được Phật tử trân trọng, ngưỡng vọng và ngày càng được phổ biến rộng rãi. Tuy nhiên không chỉ tỏ lòng hiếu kính qua việc đến chùa lễ lạy, cầu nguyện cha mẹ, ông bà được sức khỏe, hạnh phúc, nhiều gia đình đến chùa cũng chỉ để đốt vàng mã và phóng sinh. Họ tin rằng “dương sao âm vậy”, việc gởi quà đến cho tổ tiên, ông bà được thọ nhận ở cõi âm là việc cần phải làm. Và, vì vậy hủ tục này đã ngày càng biến tướng và gây lãng phí.

Phóng sinh, hóa vàng song hành
Một tờ báo gần đây đã đưa tin có đại gia làm nghề “cạp đất” (dùng xáng múc đất từ dưới lòng sông) đã chuẩn bị hàng tháng trời cho 400 con ngựa giấy màu, khung tre để đến rằm tháng Bảy hóa vàng cho hà bá sông Hồng, tiêu tốn khoảng 400 triệu đồng. Nhiều đại gia khác cũng so kè nhau mua sắm lễ vật, đồ vàng mã đốt cho hà bá với ước vọng được hà bá dọc sông Hồng thuận lòng giúp cho làm ăn ngày càng phát tài, phát lợi. Chuyện tưởng như đùa nhưng đó là lễ cúng tiêu tốn bạc tỷ gây xôn xao dư luận.



Ấy là câu chuyện phía Bắc, còn ở TP.HCM những năm gần đây, mọi người đến chùa đua nhau đốt vàng mã không còn xa lạ nữa. Nhiều ngôi chùa ám khói đen sì cả một góc chùa vì người dân đến mang theo lủ khủ hàng vàng mã, nhà lầu, xe hơi, tủ lạnh, tiền đô, gái đẹp… để đốt cầu nguyện cho gia tiên, ông bà được nhận lãnh nơi suối vàng. Nhiều người tin rằng, rằm tháng Bảy-Vu lan, ngày xá tội vong nhân mà thiếu món đốt vàng mã coi như thiếu sót lớn. Nên, dù nghèo khó đến mấy cũng cố mà mua sắm lễ vật, ít cũng vài tập giấy vàng mã, tiền đồng, tiền đô, quần áo, khấm khá hơn thì sắm luôn vải vóc, nhà lầu vài tầng, xe hơi xịn thậm chí có cả osin, hầu gái, trâu ngựa… làm bằng giấy màu mang đến chùa để đốt.

Đâu chỉ những ngày rằm tháng Bảy, ngay từ cuối tháng Sáu âl, người ta đã lục tục kéo nhau đến mua sắm tại các chợ Soái Kình Lâm, Kim Biên, Bà Chiểu, Hòa Bình… mua lẻ cũng đã lên đến tiền trăm. Những ngày này, mối lái tập trung về đóng hàng nườm nượp chuyển đi các tỉnh và các chợ vùng ven. Một thương lái nói: “Hàng hóa năm nay đa dạng lắm, nhà lầu, tiền bạc, xe cộ, giường chiếu, bàn ghế… cái gì ở dương gian có thì âm phủ cũng phải có nên món nào cũng tiêu thụ được. Ai muốn người thân mình thiếu thốn ở âm phủ hả em?”.

Nhiều ngôi chùa ở TP.HCM phải xây riêng lò hóa vàng cho dân chúng và Phật tử đến chùa. Tại một số khu di tích Phật giáo người Hoa, những nơi này trước đây cũng đốt rất nhiều vàng mã. Theo ghi nhận của chúng tôi, năm nay chuyện đốt vàng mã ở đây cũng giảm hẳn vì đã có lực lượng tự vệ canh giữ. Tuy nhiên, chuyện mua bán vàng mã vẫn còn nhưng đã giảm vì Ban Tổ chức di tích đã sắp xếp có hạn chế số lượng hàng bán ra cho mỗi người. Đó là những khu di tích kiến trúc Phật giáo có sự hướng dẫn, nhiều ngôi chùa khác hầu như chuyện đốt vàng mã được xem là bình thường. Vì vậy, trong suốt cả tháng Bảy bên cạnh truyền thống cúng dường trai tăng, lễ cài hoa hồng cầu nguyện sức khỏe cho cha mẹ, phát gạo cho người nghèo vẫn còn tồn tại hủ tục sắm lễ vàng mã mang đến chùa đốt cầu nguyện cho người thân ở cõi âm. Một vài ngôi chùa TP.HCM, hủ tục này ngày càng có hướng bành trướng, mang dáng dấp mê tín dị đoan.

Đến chùa rằm tháng Bảy đâu chỉ có đốt vàng mã, nhu cầu tâm linh phóng sinh chim cũng được xem là không thể thiếu. Nhiều người đi chùa có lòng thương, thấy chim nhốt trong lồng thì động lòng, hơn nữa đây cũng là nhu cầu để làm phước cầu nguyện cho cửu huyền thất tổ nên chuyện mua vài chú chim sẻ với giá bị “chặt chém” tại cổng chùa rồi thả ra cho chúng bay đi cũng là chuyện thường. Nhưng, chính vì vậy tại các chùa trong TP, đặc biệt là những ngôi chùa trung tâm đông đúc Phật tử và quan khách ra vào thì chuyện bán chim lồng trở thành “dịch vụ” không thể thiếu. Những ngày rằm tháng Bảy, lượng chim lồng đổ về bán càng tấp nập hơn hẳn bình thường.

Và... lãng phí
Vài năm trở lại đây, các vị trụ trì ở nhiều ngôi chùa TP.HCM đã ý thức việc hướng dẫn cho Phật tử hiểu thêm về tục đốt vàng mã, có chùa còn khuyến khích bỏ hẳn để Phật tử đến chùa hướng tâm đến Tam bảo và hướng đến công hạnh tu học theo truyền thống Phật giáo. Tu học theo Chánh pháp sẽ hướng tâm mình đến sự thanh thản, từ đó mà cầu nguyện cho người đã khuất cũng được nhẹ nhàng, siêu thoát.


Tục đốt vàng mã vào rằm tháng Bảy chỉ là hủ tục có từ lâu đời, do ảnh hưởng từ tín ngưỡng dân gian. Và, hiện nay, một số ngôi chùa thờ cả Quan Công, thờ mẫu… gây nên sự giao hòa đến mức khó phân biệt nên tập tục đốt vàng mã đã bị đồng hóa là tín ngưỡng xuất phát từ Phật giáo, thật ra Đức Phật không dạy điều này.

Theo các nhà nghiên cứu, hàng năm chúng ta đã tiêu tốn khoảng vài trăm tỷ đồng cho “nhu cầu” tâm linh - đốt vàng mã cho người cõi âm. Số tiền này nếu sử dụng đúng mục đích sẽ có rất nhiều ý nghĩa. Nó giúp xây dựng cho vài chục phòng học khang trang cho trẻ em nghèo, hỗ trợ cho hàng nghìn người nghèo có vốn để làm phương tiện sinh sống…

Đại gia “xáng cạp” nói trên nếu biết cách sử dụng đồng tiền và biết đền ơn đáp nghĩa thay vì làm việc vô nghĩa là đền ơn cho hà bá sông Hồng, hãy đem số tiền đó giúp cho người dân nghèo trên những xóm vạn chài ven sông Hồng, hay giúp đỡ cho những trẻ em nghèo làng vạn chài chưa có điều kiện được lên bờ học chữ.

Điều xót lòng hơn là mâm cỗ vàng mã cúng cô hồn có nhà còn dùng tiền thật để đốt, hình thành nên những nhóm “cô hồn sống”, là những thanh thiếu niên tụ tập chuyên đi giựt đồ cúng, tiền thật. Rằm tháng Bảy vừa qua, tại các quận huyện xuất hiện nhiều nhóm thanh thiếu niên chuyên đi giựt đồ cúng, tiền thật. Chúng chia nhau chạy xe máy dạo quanh các hẻm chợ, các ngả đường nơi nào có người sửa soạn mâm cỗ to, có gà vịt, tiền thật thì chúng gọi nhau lại, chuẩn bị một đội quân hùng hậu xông vào cướp cỗ. Có hôm thu được vài triệu đồng, tệ lắm cũng thu được vài trăm ngàn đồng chia nhau ăn xài. Hạn chế đốt vàng mã cũng đồng thời tiết kiệm và hạn chế gây mất an ninh, trật tự, gây cháy nổ, tổn hại môi trường. Hạn chế đốt vàng mã cũng trực tiếp tránh gây hư hỏng về nhân cách cho một bộ phận thanh thiếu niên.

TT.Thích Duy Trấn, trụ trì chùa Liên Hoa (Q.11) là một điển hình, từ nhiều năm qua đã khuyến khích dân chúng và Phật tử đến chùa không đốt vàng mã mà dành số tiền đó bỏ vào thùng từ thiện. Hàng năm, đến rằm tháng Bảy - mùa Báo hiếu, chùa dùng hàng trăm triệu đồng từ việc không đốt vàng mã để mua gạo, mua quà tặng cho đồng bào nghèo có hoàn cảnh khó khăn tại địa phương.

Thiết nghĩ, các vị trụ trì chùa cũng cần thường xuyên hướng dẫn, thuyết giảng cho Phật tử trong các buổi lễ để hạn chế dần tục đốt vàng mã, hướng đến sự tu học đúng Chánh pháp, chánh kiến và từ bi. Nên noi theo chùa Liên Hoa triệt để bài trừ tục đốt vàng mã ở chùa, hàng năm tiết kiệm một số tiền lớn để làm từ thiện giúp đỡ người nghèo.

Việc phóng sinh chim thú cầu phước cũng vô hình trung tạo nên những đội ngũ săn bẫy chim chuyên nghiệp. Việc phóng sinh và săn bẫy cứ quanh quẩn, cứ có người phóng sinh thì có người săn bẫy và ngược lại. Cuối cùng người bị hại lại là Phật tử vì tiêu tốn tiền của, còn những con chim vô tội sẽ chết dần mòn vì bị săn bắt, bị bẫy, nhốt nhiều lần, cho dù có được phóng sinh cũng dẫn đến kiệt sức mà chết.

Theo tinh thần Phật giáo, nuôi dưỡng lòng từ bi từ việc phóng sinh là việc tốt. Nhưng, hãy thực hiện phóng sinh một cách vô tư, bằng tâm từ, hoan hỷ hàng ngày chứ không phải đến rằm mới ùn nhau đi phóng sinh cho dù hành động có tác dụng trưởng dưỡng từ tâm cũng bằng không.

Là Phật tử thường xuyên đến chùa cũng nên có cái nhìn đúng đắn về việc phóng sinh và hủ tục đốt vàng mã để không lạm dụng, tránh lãng phí, tránh mê tín dị đoan.

H.Diệu
Nguồn: Giác Ngộ Online

Chăn Nuôi Là Mối Đe Dọa Chính Cho Môi Sinh

Tiến sĩ Amarasiri Weeraratne, Thích Nữ Liên Hòa dịch

Những phương thuốc cần thiết khẩn cấp

29 tháng 10 2006, Rome - Điều nào gây nhiều khí thải khí nhà kính, chăn nuôi gia súc hay lái xe hơi?

Ngạc nhiên!

Theo một tường trình mới được phát hành bởi Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc, ngành chăn nuôi tạo ra khí thải khí nhà kính như được đo lường tương đương với thán khí, 18% nhiều hơn ngành vận chuyển. Đó còn là nguồn thoái hóa đất và ô nhiễm nước chủ yếu.

Henning Steinfeld, chủ tịch Phân bộ Tài liệu Chăn nuôi và Chính sách của Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc kiêm tác giả kỳ cựu của bản tường trình nói rằng: "Chăn nuôi là một trong những nguồn đóng góp đáng kể nhất gây ra vấn đề môi trường nghiêm trọng hiện nay. Cần có hành động khẩn cấp để cứu vãn tình trạng này."

Với sự phồn thịnh gia tăng, người ta tiêu thụ nhiều sản phẩm thịt và bơ sữa hơn mỗi năm. Sản xuất thịt toàn cầu được dự đoán nhiều hơn gấp đôi từ 229 triệu tấn vào năm 1999/2001 đến 465 triệu tấn vào năm 2050, trong khi sản lượng sữa được dự tính từ 580 đến 1043 triệu tấn.

Bóng Dài
Ngành chăn nuôi đang phát triển nhanh hơn bất kỳ ngành phụ nông nghiệp nào khác. Chăn nuôi cung cấp kế sinh nhai cho 1,3 tỷ người và chiếm 40% sản lượng nông nghiệp toàn cầu. Đối với nhiều nông dân nghèo ở các quốc gia đang phát triển, chăn nuôi còni là nguồn năng lượng tái tạo cho chất thải và nguồn phân hữu cơ cần thiết cho cây trồng của họ.


Nhưng sự phát triển nhanh chóng đó đúng thật là một cái giá môi sinh lớn, theo tường trình của Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc, Bóng Dài của Chăn Nuôi – Những Vấn đề và Lựa chọn Môi sinh. “Những phí tổn môi sinh mỗi đơn vị sản xuất chăn nuôi phải được cắt giảm phân nửa, chỉ để tránh mức tổn hại tệ hơn qua mức hiện tại,” tường trình cảnh báo.

Khi khí thải từ việc sử dụng đất và thay đổi việc sử dụng được bao gồm, ngành chăn nuôi được cho là 9% thán khí bắt nguồn từ những hoạt động của con người, nhưng tạo ra thậm chí rất nhiều khí nhà kính độc hại hơn. Chăn nuôi tạo ra 65% khí nitrous oxide liên quan tới con người, gấp 296 lần lượng thán khí hâm nóng toàn cầu. Đa số phần này đến từ phân bón.

Khoảng 37% của tất cả khí mêtan do con người tạo ra (23 lần hâm nóng so với thán khí), phần lớn được phát sinh bởi quá trình tiêu hóa của loài thú nhai lại, và 64% từ nước tiểu, đóng góp đáng kể vào việc gây ra mưa axít.

Chăn nuôi hiện dùng 30% bề mặt đất của toàn địa cầu, phần lớn llà bãi chăn nuôi lâu năm nhưng cũng sử dụng 33% đất trồng trọt toàn cầu để sản xuất thức ăn cho gia súci. Khi các khu rừng bị giải tỏa để làm bãi chăn nuôi, đó là động lực chính của sự phát quang, nhất là ở Châu Mỹ La Tinh, 70% rừng trước kia đã bị biến thành đồng cỏ chăn nuôi.

Đất và Nước
Đồng thời đàn gia súc gây ra sự thoái hóa đất trên tầm cỡ lớn, với khoảng 20% đồng cỏ chăn nuôi bị xem là thoái hoá qua việc chăn thả quá mức, đất bị nén cứng và sự xói mòni. Con số này thậm chí cao hơn trong vùng đất khô ráo nơi các chính sách không thích đáng và sự quản lý chăn nuôi không phù hợp dẫn tới sự sa mạc hóa tiến triển.


Thương nghiệp chăn nuôi là một trong những ngành gây thiệt hại nhiều nhất cho sự thiếu hụt nguồn nước đang tăng của địa cầu, cùng với những yếu tố khác làm ô nhiễm nước, rửa trôi và thoái hóa rạn san hô. Tác nhân ô nhiễm chính là chất thải thú vật, chất kháng sinh, kích thích tố, hóa chất từ xưởng thuộc da, phân bón và thuốc trừ sâu bọ dùng để xịt cây trồng nuôi gia súc. Sự chăn thả lan rộng quá mức làm rối loạn chu kỳ nước, làm giảm sự bổ sung nguồn nước mặt và nước ngầm. Lượng nước lớn đáng kể bị đưa vào để sản xuất thực phẩm nuôi gia súc.

Chăn nuôi được đánh giá là nguồn ô nhiễm khí nitrogen và khí phosphorous chủ yếu trong nội địa của Biển Nam Trung Quốc, dẫn tới sự mất tính đa dạng thái biển trong hệ sinh thái biển.

Thú vật để lấy thịt và bơ sữa hiện chịu trách nhiệm cho khoảng 20% tổng số sinh khối của thú vật trên mặt đất. Sự hiện diện của chăn nuôi trong vùng đất rộng lớn và nhu cầu trồng thực phẩm nuôi gia súc cũng góp phần vào sự mất tổ thất đa dạng sinh thái; 15 trong 24 dịch vụ hệ sinh thái quan trọng đang giảm sút, với ngành chăn nuôi được xem là thủ phạm.


Các phương pháp cứu chữa
Tường trình được phát hành với sự hỗ trợ của Khởi xướng Chăn nuôi, Môi sinh và Phát triển (LEAD) của nhiều cơ quan, dứt khoát đưa ra để nghĩ đến những phí tổn môi sinh này và đề nghị nhiều cách cứu chữa tình trạng, bao gồm:


Thoái hóa đất - kiểm soát sự sử dụng và loại bỏ những chướng ngại với tính lưu động trên đồng cỏ chung. Dùng các phương pháp bảo tồn đất cùng với việc chăn nuôi có kiểm tra, tránh các khu vực mẫn cảm, hệ thống trả tiền cho các dịch vụ môi sinh trong việc sử dụng đất dùng chăn nuôi nhằm giúp giảm và phục hồi sự thoái hóa đất.

Khí quyển và khí hậu - tăng hiệu quả của việc sản xuất gia súc và nông nghiệp vụ mùa nuôi gia súc. Cải thiện thức ăn của thú vật để giảm sự lên men đường ruột mà hậu quả là khí thải khí mê tan, và thiết lập khởi xướng nhà máy khí sinh học để tái chế phân bón.

Nước- cải thiện sự hữu hiệu của hệ thống thủy nộng Đưa ra định giá chi phí đầy đủ cùng với tiền thuế để hạn chế cường độ chăn nuôi tầm cỡ lớn gần các thành phố.

Những vấn đề này và những thắc mắc liên hệ là trọng tâm của những thảo luận giữa Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc và các nhóm cộng tác họp mặt để lập biểu đồ cách hướng tới việc sản xuất gia súc tại cuộc hội đàm toàn cầu tại Vọng Các tuần này. Những thảo luận này cũng bao gồm những nguy cơ y tế công cộng quan trọng liên hệ đến sự phát triển nhanh chóng của ngành chăn nuôi như, sự gia tăng, các bệnh tật của thú vật cũng ảnh hưởng loài người. Sự gia tăng nhanh chóng của ngành chăn nuôi cũng có thể đưa đến hạn chế các tiểu chủ từ thị trường đang phát triển.

Nguồn: fao.org
Liên lạc: Christopher Matthews Media Relations, Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc christopher.matthews@fao.org (+39) 06 570 53762



Nguồn: Thư Viện Hoa Sen

Những quán cơm nghĩa tình

Trưa thứ ba, năm, bảy, tôi ăn cơm miễn phí ở quán Thiện Tâm. Trưa thứ hai, tư, sáu thì ăn ở quán cơm 2.000. Nhờ những quán ăn từ thiện như thế này, người nghèo chúng tôi mới có thêm chút tiền lo cho cuộc sống". Chị Dung, quê ở huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tâm sự. Thật ấm lòng khi giữa TP Hồ Chí Minh luôn bận rộn và bon chen vẫn còn rất nhiều tấm lòng thơm thảo lo từng miếng ăn cho những người nghèo khó.
Thiện Tâm từ một tấm lòng
Nằm dưới chân cầu Lê Văn Sỹ, quán cơm chay Thiện Tâm là một địa chỉ đặc biệt, bởi vào các buổi trưa thứ ba, năm, bảy những người ghé chân đến đây sẽ được phục vụ bữa cơm miễn phí. Khách hàng của quán là những người buôn bán ve chai, vé số, người tàn tật, sinh viên… và ai cũng được nhân viên trong quán phục vụ tận tình như nhau, không có sự phân biệt. Khách đến, tự lấy chén đĩa, muỗng nĩa để sẵn, đưa cho nhân viên xới cơm và lấy thức ăn. Mỗi phần sẽ gồm cơm, thức ăn mặn và canh. Nhận cơm xong mỗi người tự tìm chỗ ngồi, là các bàn kê dưới bóng cây rợp trong công viên và dọc con hẻm của khu dân cư. Ăn xong khách tự rửa chén đĩa trong 6 thau nước để sẵn và xếp gọn gàng vào rổ. Bình trà đá cũng để sẵn cạnh bên hết sức chu đáo.

Quán cơm Thiện Tâm được mở từ giữa năm 2007. Chủ quán là bác Lê Công Thượng, được mọi người gọi bằng cái tên thân mật là bác Sáu. Tuổi thơ cơ cực từ Sóc Trăng và lăn lộn kiếm sống nhiều năm ở thành phố khiến bác luôn đồng cảm với người nghèo và luôn mong có điều kiện để giúp những người nghèo. Mãi đến gần 70 tuổi, khi có chút tiền "dưỡng già" bác mới thực hiện được ước mơ ấp ủ hàng chục năm của mình là giúp người nghèo được no lòng bằng việc mở một quán cơm mà khách chỉ đến ăn chứ không phải trả tiền. Ghé vai gánh vác trách nhiệm tài chính với bác là anh Nguyễn Tấn Thịnh, một nhà hảo tâm ở quận Gò Vấp. Đều đặn mỗi tuần 3 buổi, bác Sáu và anh Thịnh đều có mặt tại quán để cùng nấu nướng, chăm sóc bữa ăn và trò chuyện với những thực khách ở đây.

Hiện mỗi ngày tiệm cơm của bác Sáu phục vụ khoảng 500 suất cơm. Trước đây, khi quán mới khai trương, chưa được nhiều người biết đến, bác Sáu đã phải đi đến các chân cầu, vỉa hè, chợ… để "mời" bà con đến ăn cơm. Và ngay bây giờ, khi tới đầu cầu Lê Văn Sỹ, đã thấy có tấm biển dẫn đường: "Thiện Tâm - Ăn cơm miễn phí, cách 30m" để mọi người dễ tìm thấy hơn.

Cô chủ trẻ và quán cơm 2.000

Quán cơm 2.000 mà chị Dung nhắc đến nằm ở đường số 3, Cư xá Lữ Gia, quận 11. Tên quán cơm cũng chính là giá tiền mỗi suất ăn ở đây. Quán mở cửa vào các trưa thứ hai, tư và sáu. Và mặc cho giá cả lên xuống, từ ngày quán cơm hoạt động (15-9-2008) đến nay, giá mỗi phần gồm cơm, thức ăn mặn, canh và cả một trái chuối tráng miệng vẫn chỉ có 2.000 đồng.

Làm nghề thu mua ve chai, hai vợ chồng chị Dung là "khách ruột" của quán Thiện Tâm và cả Quán cơm 2.000. Chị bảo, "chịu khó" chạy qua chạy lại giữa hai quán, mỗi ngày vợ chồng chị tiết kiệm được ít nhất 20.000 đồng, một món tiền không hề nhỏ với người nghèo. Còn em Nguyễn Văn Quang, quê ở Hà Tĩnh, sinh viên năm thứ hai của Trường Đại học Bách khoa cho biết, từ khi có quán cơm giá chỉ 2.000 đồng, em rất mừng và trở thành khách "ruột" của quán. Suất cơm 2.000 đồng theo em ngon không thua gì cơm bình dân 10.000 đồng ở xung quanh. Không chỉ em, mà cả gia đình và nhiều bạn sinh viên khác cũng rất cảm kích tấm lòng cô chủ quán.

Khá ngạc nhiên là chủ nhân của Quán cơm 2.000 là một cô gái còn rất trẻ, chỉ vừa bước qua tuổi 30. Từng trải qua cuộc sống khó khăn thời sinh viên, cô gái này ấp ủ ước mơ giúp đỡ những sinh viên nghèo có những bữa ăn tươm tất để yên tâm học hành. Năm 2008, khi đã có chút vốn liếng trong tay và với sự giúp đỡ của bạn bè, cô đã lập ra quán này. Hiện mỗi ngày quán phục vụ khoảng 500 suất ăn, phần đông là sinh viên các trường đại học. Giá 2.000 đồng cho bữa cơm chỉ là tượng trưng, để thay vì miễn phí, người đến ăn vẫn có cảm giác tự nhiên của người đi "mua" chứ không phải đi "xin".

Trên bức tường của Quán cơm 2.000 còn có dòng chữ: "Chúng tôi phục vụ các bạn, thành công mong các bạn nhớ đến những anh em còn khó khăn". Đây là mong ước của cô chủ quán trẻ cũng như bác Sáu và anh Thịnh, những người làm từ thiện không cần mong được đáp lại, chỉ mong cho mọi người biết quan tâm đến những người nghèo khổ hơn mình.

Thùy Linh (Hà Nội Mới)
Nguồn: Giác Ngộ Online

Nghe Đức Phật dạy về tình yêu

Này người trẻ, bạn có biết Phật dạy như thế nào về tình yêu? Tôi đã may mắn tham dự một buổi pháp thoại của Thiền sư Nhất Hạnh về tình yêu: mối quan hệ giữa yêu thương và hiểu biết, tình yêu từ bi hỉ xả, tình yêu và tình dục. Ông gọi đó là “yêu thương theo phương pháp Phật dạy”.

Trước khi bắt đầu bài thuyết pháp của mình tại Tổ Đình Trung Hậu - Vĩnh Phúc, Thiền sư Nhất Hạnh đã mời các bạn trẻ ngồi lên trên, để có thể nghe thật rõ. Ông muốn nói về tình yêu, bản chất tình yêu nhìn từ góc độ Phật giáo.

Miệng mỉm cười, ông đã kể một câu chuyện tình yêu, giản dị thôi nhưng hàm ý sâu sắc: Có một chàng trai ở vùng California - Mỹ, rất đẹp trai, học giỏi, tốt nghiệp một trường đại học nổi tiếng, có nhiều bạn gái xinh đẹp. Chàng trai sống với mẹ, người mẹ biết trong các cô gái ngưỡng mộ con mình, có một cô gái không xinh nhất, cô không trắng, không cao lắm nhưng được chàng trai đặc biệt chú ý. Ngạc nhiên, người mẹ hỏi con trai: Vì sao con lại thích cô gái ấy, cô ta đâu có gì nổi bật ? Cô ấy hiểu con - chàng trai trả lời đơn giản.

Chàng trai học ngành công nghệ thông tin nhưng rất hay làm thơ. Mỗi lần chàng đọc thơ, cô gái nọ lắng nghe rất chăm chú và có những nhận xét sâu sắc, trong khi những cô gái xinh đẹp kia không để ý gì đến. Chàng trai đã chọn người yêu không vì vẻ đẹp bề ngoài, mà bởi sự lắng nghe và thấu hiểu.“Đạo Phật cũng dạy như vậy, có hiểu mới có thương, tình yêu phải làm bằng sự hiểu biết”, Thiền sư kết luận.

Muốn thương phải hiểu

Trong đạo Phật, từ bi gắn liền với trí tuệ. Không hiểu, không thể thương yêu sâu sắc. Không hiểu, không thể thương yêu đích thực. Hiểu chính là nền tảng của tình thương yêu. Mỗi người có những nỗi niềm, những khổ đau, bức xúc riêng, nếu không hiểu, sẽ không thương mà giận hờn, trách móc. Không hiểu, tình thương của mình sẽ làm người khác ngột ngạt, khổ đau. Không hiểu, sẽ làm người mình thương đau khổ suốt đời. Nhân danh tình thương, người ta làm khổ nhau. Chuyện đó vẫn thưòng xảy ra.

Được hiểu và được thương vốn là một nhu cầu muôn đời của con người. Nhiều người thường cảm thấy không ai hiểu mình. Họ “đói” thương, “đói” hiểu. Họ thơ thẩn, lang thang trong cuộc đời tìm người hiểu mình, thương mình. Gặp được người hiểu mình, thương mình là may mắn lớn của cuộc đời. Tình yêu nảy nở, lớn lên từ đó.

Vậy nên, “có hiểu mới có thương” là nguyên tắc chọn người yêu, chọn chồng/vợ theo quan điểm Phật giáo. Dù người ta có đẹp, có giàu đến đâu nhưng không hiểu mình sẽ làm mình khổ suốt đời. Hôn nhân có thể mở ra những con đường hoa hồng, có thể mở ra cánh cửa tù ngục. Chọn vợ, chọn chồng là một sự mạo hiểm lớn. Hãy cẩn thận, nếu không muốn chọn án tù chung thân cho cuộc đời mình.

Chọn người hiểu và thương mình - hãy nhớ - đó là nguyên tắc tìm người tri kỷ trong cuộc đời.

Bốn yếu tố của tình yêu: Từ - bi - hỉ - xả

Phật dạy về tình yêu rất sâu sắc. Tình yêu phải hội tụ đủ bốn yếu tố: từ, bi, hỉ, xả.

“Từ” là khả năng hiến tặng hạnh phúc cho người mình yêu. Yêu thương không phải là vấn đề hưởng thụ, yêu thương là hiến tặng. Tình thương mà không đem đến hạnh phúc cho người yêu không phải là tình thương đích thực. Yêu mà làm khổ nhau không phải tình yêu. Có những người yêu nhau, ngày nào cũng khổ, đó là tình yêu hệ luỵ, chỉ mang tới sự khổ đau. Yêu thương ai đó thực sự, nghĩa là làm cho người ta hạnh phúc, mỗi ngày.

“Bi” là khả năng người ta lấy cái khổ ra khỏi mình. Mình đã khổ, người ta làm cho thêm khổ, đó không thể là tình yêu đích thực. Còn gì cho nhau nếu chỉ có khổ đau tuyệt vọng. Người yêu mình phải là người biết sẻ chia, biết xoa dịu, làm vơi bớt nỗi khổ của mình trong cuộc đời.

Như vậy, “từ bi” theo Phật dạy là khả năng đem lại hạnh phúc cho nhau. Yêu thương ai là phải làm cho người ta bớt khổ. Nếu không, chỉ là đam mê, say đắm nhất thời, không phải là tình yêu thương đích thực. “Từ bi” trong tình yêu không phải tự dưng mà có. Phải học, phải “tu tập”. Cần nhiều thời gian, để quan sát, để lắng nghe, để thấu hiểu những nỗi khổ niềm đau của người yêu, để giúp người ta vượt qua, tháo gỡ, bớt khổ đau, thêm hạnh phúc.

“Hỉ” là niềm vui, tình yêu chân thật phải làm cho cả hai đều vui. Dấu ấn của tình yêu đích thực là niềm vui. Càng yêu, càng vui, niềm vui lớn, cả gia đình cùng hạnh phúc. Cuộc nhân duyên như thế là thành công.

“Xả” là không phân biệt, kì thị trong tình yêu. Mình yêu ai, hạnh phúc của người ta là của mình, khó khăn của người ta là của mình, khổ đau của người ta là của mình. Không thể nói đây là vấn đề của em/ anh, em/ anh ráng chịu. Khi yêu, hai người không phải là hai thực thể riêng biệt nữa, hạnh phúc khổ đau không còn là vấn đề cá nhân. Tất cả những gì mình phải làm coi đó là vấn đề của hai người, chuyển hoá nỗi khổ đau, làm lớn thêm hạnh phúc.

Này người trẻ, bạn nghĩ về tình yêu của mình đi, có “từ bi hỉ xả không”? Bạn hãy can đảm tự hỏi mình rằng “Người yêu ta có hiểu niềm vui nỗi khổ của ta không? Có quan tâm đến an vui hàng ngày của ta không? Người ấy có nâng đỡ ta trên con đường sự nghiệp không?...” Và tự hỏi lại mình, liệu bạn có đang thành thực với tình yêu của mình?! Liệu tình yêu của bạn đã đủ “từ bi hỉ xả”?!

Tình dục và tình yêu

Phật giáo quan niệm như thế nào về tình dục trong tình yêu? Không phải ngẫu nhiên mà vị thiền sư tôi được hạnh ngộ bắt đầu vấn đề này bằng cách bàn về “thân tâm” trong truyền thống văn hoá Á Đông.

Trong truyền thống văn hoá ta, thân với tâm là “nhất như”, tức là nếu ta không tôn kính thân thể người yêu thì cũng không tôn kính được tâm hồn người ấy. Yêu nhau là giữ gìn cho nhau, kính trọng nhau. Khi sự rẻ rúng xem thường xảy ra thì tình yêu đích thực không còn.

Thân thể ta cũng như tâm hồn ta. Có những nỗi niềm sâu kín trong tâm hồn, chúng ta chỉ chia sẻ với người tri kỉ. Thân thể ta cũng vậy, có những vùng thiêng liêng và riêng tư, ta không muốn ai chạm tới, ngoài người ta yêu, ta tin, ta muốn sống trọn đời, trọn kiếp.

Trong tình yêu lớn và cao quý, bất cứ lời nói và cử chỉ nào cũng phải biểu lộ sự tương kính. Người con trai phải tôn trọng người con gái mình yêu, cả thân thể lẫn tâm hồn. Người con gái biết giữ gìn, cũng là biết làm người yêu thêm tương kính, nuôi dưỡng hạnh phúc lâu dài về sau.

Bạn muốn thương yêu theo phương pháp Phật dạy chăng? Hãy hiểu, thương và tương kính người yêu của mình, cũng chính là đem hạnh phúc đến cho người và cho mình vậy!

Nguồn: Giác Ngộ Online

Finding a Diamond on a Muddy Road - Hạt Ngọc Trong Bùn

Gudo was the emperor’s teacher of his time. Nevertheless, he used to travel alone as a wandering mendicant. Once when he was on his way to Edo, the cultural and political ccenter of the shogunate, he approached a little village named Takenaka. It was evening and a heavy rain was falling. Gudo was thoroughly wet. His staraw sandals were in pieces. At a farmhouse near the village he noticed four or five pairs of sandals in the window and decided to buy some dry ones. The woman who offered him the sandals, seeing how wet he was, invited him to remain for the night in her home. Gudo accepted, thanking her. He entered and recited a sutra before thefamily shrine. He then was introduced ot the woman’s mother, and to her children. Observing that the entire family was depressed, Gudo asked what was wrong.

“My husband is a gambler and a drunkard,: the housewife told him. “When he happens to win he drinks and becomes abusive. When he loses he borrows money from others. Sometimes when he becomes thoroughly drank he does not come home at all. What can I do?”

“I will help him,” said Gudo. “Here is some money. Get me a gallon of fine wine and something good to eat. Then you may retire, I will mediate before the shrine.”

When the man of the house returned about midnight, quite drunk, he bellowed: “Hey wife, I am home. Have you something for me to eat?”

“I have something for you,” said Gudo. “I happened to be caught in the rain and your wife kindly asked me to reain here for the night. In return I have bought some wine and fish, so you might as well have them.”

The man was delighted. He drank the wine at once and laid himself down on the floor. Gudo sat in mediation beside him. In the morning when the husband awoke he ahd forgotten about the previous night. “Who are you? Where do you come from? He asked Gudo, who still was mediating.

“I am Gudo of Kyoto and I am going on to Edo,” replied the Zen master.

The man was utterly ashamed, he apologized profusely to the teacher of his empleror. Gudo smiled, “Everything in this life is impermanent,” he explained. “Life is very brief. If you keep on gambling and drinking, you will have no time left to accomplish anything else, and you will cause your family to suffer too.”

The perception of the husband awoke as if from a dream. “You are right,” he declared. “How am I ever repay you for this wonderful teaching. Let me see you off and carry your things a little way.”

“If you wish,” assented Gudo.

The two started out. After they had gone three miles Gudo told him to return. “Just another five miles,” he begged Gudo. They continued on.

“You may return now,” suggested Gudo. “After another ten miles,” the man replied.

“Return now,” said Gudo, when the ten miles had been passed.

“I am going to follow you all the rest of my life,” declared the man.

Modern Zen teachers in Japan spring from the lineage of a famous master who was the successor of Gudo. His name was Mu-nan, the man who never turned back.


***************

Thiền sư Gudo là bậc thầy của vị hoàng đế đương thời. Dù vậy, ngài thường du phương hoằng hoá, một mình đi khắp đó đây như một vị tăng khất thực. Một hôm, ngài đang trên đường đến Edo, trung tâm văn hoá chính trị của chính quyền quân sự thời ấy. Khi sắp đến ngôi làng nhỏ Takenaka thì trời đã tối và mưa tầm tã.Thiền sư bị ướt đẫm trong mưa, đôi dép rơm của ngài rách tả tơi. Đến một ngôi nhà gần làng, ngài nhìn thấy có khoảng bốn năm đôi dép để ở nơi cửa sổ. Ngài định ghé vào mua một đôi khô ráo. Người phụ nữ trong nhà biếu ngài đôi dép và nhận thấy ngài bị ướt sũng nên mời ngài trú lại qua đêm. Thiền sư nhận lời và cảm ơn bà.

Ngài vào nhà và đọc kinh trưóc bàn thờ của gia đình. Sau đó, ngài được giới thiệu với mẹ và các con của người phụ nữ. Nhận thấy cả nhà đều có vẻ buồn bã, thiền sư liền hỏi họ xem có việc gì bất ổn không.

Người phụ nữ thưa với ngài: “Chồng của con là người mê cờ bạc và nghiện rượu. Lúc có vận may được bạc, anh ta uống rượu say và đánh đập vợ con. Lúc đen đủi thua bạc, anh ta vay mượn tiền người khác. Thỉnh thoảng anh ta uống đến say mềm và không về nhà. Con biết làm sao đây?”

Ngài Gudo nói: “Tôi sẽ giúp anh ta. Chị cầm lấy ít tiền đây và mua cho tôi bình rượu ngon với đồ nhắm. Rồi chị có thể đi nghỉ, tôi sẽ ngồi thiền trước bàn thờ.

Khi người đàn ông về nhà vào khoảng nửa đêm, anh ta say khướt, la lối: “Này bà, tôi đã về rồi! Nhà có gì ăn không?”

Thiền sư lên tiếng: “Tôi có đồ ăn cho anh đây. Tôi bị mắc mưa và vợ anh đã tử tế mời tôi nghỉ chân qua đêm. Để đáp lại, tôi có mua về đây ít rượu và cá, anh có thể dung.”

Người đàn ông hài lòng lắm, lập tức ngồi vào đánh chén cho đến khi ngã lăn ra sàn nhà. Ngài Gudo ngồi thiền ngay cạnh ông ta.

Sáng ra, khi tỉnh dậy thì người chồng đã quên sạch chuyện đêm qua nên hỏi ngài Gudo, khi ấy vẫn còn đang ngồi thiền: “Ông là ai? Ông từ đâu đến đây?”

Thiền sư đáp: “Tôi là Gudo ở Kyoto, đang trên đường đến Edo.”

Nghe tên vị quốc sư, người đàn ông vô cùng hổ thẹn, hết lời xin ngài tha lỗi.

Ngài Gudo mỉm cười dạy: “Mọi thứ trên đời này đều vô thường. Cuộc sống rất ngắn ngủi. Nếu anh cứ tiếp tục cờ bạc rượu chè, anh sẽ không có thời gian để tự mình đạt được bất cứ điều gì khác, và cũng gây ra nhiều đau khổ cho gia đình.”

Người đàn ông chợt thức tỉnh như vừa ra khỏi một giấc mơ. Anh ta nói: “Thầy dạy chí phải. Làm sao con có thể đền đáp ơn thầy đã dạy dỗ thức tỉnh con. Xin cho con mang hành lý tiễn thầy một đoạn ngắn.”

Thiền sư chấp thuận: “Được, tuỳ ý anh vậy.”

Hai người khởi hành. Sau khi đi được khoảng ba dặm, ngài Gudo bảo anh ta quay về.

Anh ta nài nỉ: “Xin đi thêm năm dặm nữa thôi.”

Và họ tiếp tục đi, cho đến khi ngài Gudo quay sang bảo anh ta: “Giờ thì anh trở về được rồi.”

Người đàn ông đáp lại: “Xin cho con tiễn thầy mười dặm nữa.”

Khi đã đi thêm được mười dặm, thiền sư bảo: “Bây giờ anh hãy về đi.”

Người đàn ông quả quyết: “Không, con sẽ đi theo thầy suốt quãng đời còn lại của con.”

Các thiền sư Nhật thời hiện đại có nguồn gốc truyền thừa từ một vị thiền sư lỗi lạc nối pháp ngài Gudo. Vị thiền sư ấy có tên là Mu-nan, nghĩa là “người không bao giờ quay lại.”


Nguồn: Gõ Cửa Thiền.

Lại Vấn Đề Ăn Chay

NỘI DUNG BÀI PHÁT THANH SỐ 43

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được một thư tâm tình, xin đọc lên để quý vị cùng chúng tôi suy ngẫm về trường hợp một người con thương mẹ, đồng thời cũng thương cả gia đình, bối rối không biết làm sao để đem gia đình trở lại những ngày êm ấm xưa.

Trong buổi phát thanh hôm nay, chúng tôi sẽ góp ý và cũng mong nhận được ý kiến của quý thính giả. Nếu có, chúng tôi sẽ đem ra thảo luận trong những kỳ sắp tới, theo tinh thần của chương trình Phát thanh Phật giáo do Thư Viện Hoa Sen phụ trách, là trình bày và thảo luận với quý thính giả về những vấn đề thiết thực trong đời sống hằng ngày, nhằm mục tiêu giữ gìn sự trong sáng của đạo Phật. Sau đây là nguyên văn bức thư:

Thưa quý Ban Biên Tập,
Chúng tôi là một đại gia đình gồm cha mẹ và năm anh chị em, hai trai, ba gái. Trong suốt cuộc đời tôi, hình ảnh mẹ tôi là trung tâm của gia đình. Từ khi còn ở Việt Nam, mẹ tôi là một bà nội trợ giỏi, với đồng lương công chức eo hẹp của ba tôi, mẹ tôi chi tiêu tằn tiện, may lấy quần áo cho chúng tôi, nấu những món ăn cho gia đình, dù không phải sơn hào hải vị, nhưng rất ngon. Tôi vẫn còn nhớ món cá nục trong những cái rổ nan, mẹ tôi chiên lên, rưới nước mắm, rắc hạt tiêu rồi hạ lửa xuống chỉ còn riu riu, mùi cá xém vàng nâu quyện với nước mắm cô đặc lại, bốc lên thơm ngào ngạt.
Khi ba tôi được đi theo diện HO, chúng tôi qua đến đây cũng còn nghèo lắm, mẹ tôi vẫn làm những món ăn rẻ tiền như khi còn ở quê nhà, đôi khi sang hơn một chút như có thêm thịt gà, thịt heo, vân vân... Còn nhớ những chiều đi học về, bóng dáng mẹ lui cui trong bếp, tay đũa tay thìa, mẹ nêm nếm những món gà kho gừng, cánh gà xào chua ngọt, mùi thơm hấp dẫn, tôi thường lấy cơm nóng bỏ vào chảo để vét lại cái chất nước sốt dẻo quánh, thơm và ngọt lựng trong cổ. Ðôi khi, mẹ tôi cũng chiên cá nục với nước mắm và hạt tiêu như khi xưa, mẹ bảo :” Món này rẻ lắm”, chúng tôi lại thấy ngon quá, chẳng đòi mẹ món ăn đắt tiền. Còn nhớ hôm anh tôi ra trường, mẹ tính cho cả nhà ăn món gà El Pollo Loco, nhưng rồi mẹ lại mua thịt gà về quay với bơ, mẹ bảo nhà làm thế này rẻ hơn nhiều, chúng tôi thì thấy ngon quá rồi, chẳng cần đòi hỏi gì thêm.


Ngày tháng êm ả trôi mau trong cuộc sống thanh bạch mà vui. Rồi chúng tôi ra trường, có gia đình, con cái. Mỗi cuối tuần, chúng tôi vẫn về ăn cơm với ba mẹ, rồi gửi con cho mẹ tôi trông giùm để đi coi chiếu bóng hay thăm bạn hữu. Mỗi tuần mẹ tôi lại nấu một món đặc biệt, như phở Bắc, hủ tiếu Nam Vang, bún bò Huế, mì Quảng, bánh xèo, bánh tôm, chả giò, vân vân, món nào của mẹ nấu cũng đều rất ngon. Dù nay thì chúng tôi dư tiền để ra tiệm ăn những món mà ngày trước coi là món ăn sang, nhưng chúng tôi thấy món mẹ nấu ngon hơn, thích ăn ở nhà ba mẹ hơn.

Từ khi chúng tôi đi làm, có gia đình, thì đời sống của ba mẹ tôi cũng khá hơn. Ngoài tiền trợ cấp của chính phủ, chúng tôi cũng biếu thêm chút đỉnh để ba mẹ đi chơi, hoặc có tiền chiêu đãi bạn bè, linh tinh. Mẹ tôi thì đi chùa, đi thăm bè bạn. Và rồi vấn đề bắt đầu nẩy sinh từ lúc này.

Thưa quý Ban Biên Tập,
Sau một thời gian đi chùa, mẹ tôi bắt chước các bà bạn, học làm đồ chay, rồi đổi qua ăn chay. Lúc đầu thì còn ăn một tháng có mấy ngày, sau ăn chay trường luôn, chấm dứt ăn thịt.


Hồi mới ăn chay, mẹ tôi vẫn còn nấu các món ăn mặn như thường lệ. Sau một thời gian thì bà chỉ nấu món chay và mua những món mặn nấu sẵn ở ngoài tiệm đem về để mọi người ăn dặm chung trong mâm. Dần dần, những bữa ăn món đặc biệt cuối tuần như phở, bún, vân vân, cũng biến mất. Mẹ ít vào bếp, thường yêu cầu chúng tôi mua đồ ăn nấu sẵn, hoặc cùng nhau ra tiệm ăn. Thành ra sự đi chùa, tu hành theo đạo Phật thì từ bi đâu không thấy, chỉ thấy gia đình tôi mất những bữa ăn ngon lành đầm ấm khi xưa.

Ba tôi rất bực mình vì khẩu vị của ba đã quen với cách nấu ăn, nêm nếm của mẹ. Cơm ngoài tiệm ba thường chê mặn, chê bột ngọt, chê dầu mỡ, có khi chỉ nếm qua rồi bỏ ăn, đứng lên.
Cả ba tôi và chúng tôi đều oán đạo Phật và sự ăn chay, đã làm mất những bữa cơm gia đình ấm cúng của chúng tôi, đã làm mất niềm vui mà đã bao lâu nay mẹ chúng tôi đã đem lại cho chúng tôi.
Xin quý Ban Biên Tập giúp ý kiến cho tôi, nên khuyên mẹ tôi ăn thịt trở lại, hay là nên khuyên ba tôi chấp nhận sự ăn trường trai và không nấu thịt cá của mẹ.
Trân trọng cảm ơn quý vị, Ngọc Hạnh


Thưa quý thính giả,
Ðọc thư của bạn Ngọc Hạnh với những chi tiết nồng đượm tình gia đình, chúng tôi rất ngậm ngùi. Cũng như bạn Ngọc Hạnh, chúng tôi cũng cảm nhận được sự mất mát của gia đình bạn. Cảm nhận sự mất mát thì giống nhau, nhưng là những người đứng ngoài, nên chúng tôi có thể thấy thêm vài khía cạnh khác của vấn đề, xin trình bày ra cùng quý thính giả và bạn Ngọc Hạnh, như sau:
Trước nhất, một điều rất rõ là gia đình bạn Ngọc Hạnh đã đặt tất cả niềm vui vào một trung tâm điểm, trung tâm điểm này không phải là “bà mẹ” nhưng là “khả năng nấu ăn ngon của bà mẹ”. Bởi vì bà mẹ vẫn còn sống đó, chỉ ngừng nấu các món mà gia đình thích thôi, là tất cả tình cảm mà trước kia biểu hiện ra trong việc nấu ăn, nay dĩ nhiên là vẫn còn đó, đã bị chồng con xóa hết rồi. Bản thân bà cũng vẫn còn đó, nhưng tình yêu của gia đình đối với bà thì dường như đã bị sứt mẻ. Tâm lý đó của mọi người trong gia đình có thể đã đôi khi biểu lộ ra, dù không quá lộ liễu, nhưng cũng đủ khiến cho bà mẹ suy nghĩ về “thân phận công cụ nấu bếp” của mình trong lòng chồng con chăng?


Trong cuộc sống vô thường, mọi sự đổi thay từng giây, từng phút, không ai biết lúc nào mình sẽ thở ra mà không còn hít vào này, sự đặt tất cả niềm hạnh phúc của gia đình vào tài nấu ăn của một người là sai lầm. Có thể bất thình lình bà mẹ bị tật bệnh gì đó, không còn nấu nướng được nữa, hoặc một ngày nào đó, tuổi già sức yếu, bà mẹ không thể gánh vác được những kỳ vọng mà chồng con đặt vào bàn tay làm bếp của mình, thì tất cả niềm vui của gia đình cũng sụp đổ hay sao? Còn phải nhớ đến rằng cái chết có thể tới với bất cứ ai vào bất cứ lúc nào, cho nên mỗi người phải tự mình tìm được sự an lạc từ nội tâm mình, không thể trông cậy vào ai khác, nhất là trông vào tài nấu bếp của một bà mẹ.

Nếu gia đình bạn Ngọc Hạnh để ý tới nội tâm của bà mẹ, sẽ có thể nhìn ra thêm khía cạnh khác, qua sự đổi thay của bà. Có thể là do đi chùa, tâm hồn bà phong phú ra, suy tư sâu sắc hơn, bà nghĩ tới được những vấn đề mà trước kia bà chưa từng nghĩ tới, cho nên hành xử khác trước.
Chúng tôi được biết có những gia đình đã tưởng tượng sai về sự đi lễ của bà mẹ, coi như là “ham vui”, hoặc là “già rồi trở thành mê tín”, hoặc “đến chùa gặp bè bạn để khoe của, khoe con”, mà thường là không tìm hiểu coi sinh hoạt ở chùa của mẹ như thế nào, không nhìn vào đời sống nội tâm của mẹ, đã biến chuyển ra sao.


Thực tế, do đi chùa, Phật tử được tiếp cận với giáo pháp nhà Phật, đôi khi do các vị sư giảng, nhưng phần lớn là do bạn đạo trao truyền cho nhau những câu chuyện, những băng giảng, những sách báo có những bài giáo lý. Từ những nguồn tài liệu này, một số vị đem về nhà, nhưng trước sự coi thường của chồng con đối với đạo, các vị ấy lặng lẽ đọc, lặng lẽ nghe băng, nhờ vậy, tâm hồn có sự chuyển hóa, hiểu được những phần cốt tủy của nhà Phật, về sự bớt làm điều xấu ác, tăng làm điều tốt lành và tụng kinh niệm Phật để thanh tịnh hóa tâm ý.

Trong những bài giảng, rất nhiều đề tài được đặt ra. Vì đạo Phật xây dựng trên hai cột trụ chính là Từ Bi và Trí Tuệ, cho nên đề tài Từ Bi thường được nói tới nhiều nhất. Cụ thể như trong một dịp gặp gỡ các tâm lý gia Hoa Kỳ, đức Ðạt Lai Lạt Ma cũng thảo luận với họ về đề tài Từ Bi, được trình bày trong cuốn “Worlds in Harmony, Dialogues on Compassionate Action”. Chúng tôi xin trích dịch mẩu đối thoại giữa Ngài và tiến sĩ Joanna Macy, một nhà bảo vệ môi sinh, sáng lập viên của Nuclear Guardianship Project, như sau: ...”... Bà Joanna Macy hỏi:

- Thưa Ngài, tôi xin hỏi Ngài về trường hợp khác, trong đó những con vật rất đau đớn, đó là tại các trại chăn nuôi. Ðể có thể thay đổi lề lối làm việc ngõ hầu giảm thiểu sự đau đớn cho những sinh vật này, chúng ta cần phải nhìn tận mắt nỗi đau đớn của chúng. Nhưng đối với phần lớn chúng ta thì dường như sự nhìn vào nỗi đau đớn đó là điều quá sức chịu đựng nổi, cho nên chúng ta muốn nhìn đi phía khác để lảng tránh sự thực. Ngài mới giảng rằng phải thực tập hành động không lảng tránh mà nhìn sâu vào nỗi đau để không còn sợ nó nữa. Vậy nếu có thể, xin Ngài giảng rõ hơn, nhất là trong tinh thần liên đới cảm thông với các loài sinh vật đàn em đang bị hành hạ này chăng?

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đáp:
- Hàng ngàn, hàng triệu, hàng tỷ con vật bị giết để làm đồ ăn cho loài người. Ðiều đó thật là đáng buồn! Loài người chúng ta có thể không cần phải ăn thịt mà vẫn sống, nhất là trong thế giới tân tiến ngày nay. Chúng ta có quá nhiều thực phẩm bằng rau đậu và nhiều loại đồ ăn khác, cho nên chúng ta có khả năng và bổn phận cứu sống hàng nhiều tỷ sinh mạng. Tôi đã thấy có nhiều cá nhân và nhiều nhóm người tích cực yểm trợ các hoạt động bảo vệ quyền sống của loài vật, những người này đều ăn chay trường. Thật là tuyệt !


Có những sự giết chóc thật là phí phạm. Thí dụ săn bắn và câu cá, coi như là trò thể thao, đúng là vô nghĩa lý. Nếu giết vì lý do khác, thí dụ đánh cá để làm thực phẩm, thì còn có thể hiểu được hơn. Nhưng có lẽ điều đáng buồn nhất là tại các trại chăn nuôi. Những con vật đáng thương sống ở đó thật là đau khổ. Bản thân tôi đã từng tới thăm một trại nuôi gà tại Nhật, nơi người ta nhốt hai trăm ngàn con gà mái suốt hai năm trường, chỉ cốt để cho chúng đẻ trứng. Chúng là những kẻ tù đầy trong hai năm ròng rã đó. Rồi sau hai năm, khi không còn khả năng sinh sản, thì chúng bị bán đi để giết lấy thịt. Thật là kinh hoàng, đáng buồn quá! Chúng ta phải hỗ trợ những người có lòng muốn giảm thiểu cung cách đối xử bất công này. Thật là tai hại nếu chúng ta không quan tâm tới nỗi đau đớn của bất cứ chúng sinh nào. Ngay trong chiến tranh, chúng ta cần nhận thức được nỗi đau đớn của đối phương và sự áy náy trong lòng mình vì đã gây đau thương cho họ thì tốt hơn...”...
Ðó là những lời khuyên của một tu sĩ Phật giáo về sự phát triển lòng từ bi, mà do tiếp cận với đạo, người Phật tử đã nhận thức được.


Nhân đây, chúng tôi cũng xin minh xác rằng ăn chay trường không phải là điều bắt buộc của người Phật tử. Ngay trong thời đức Phật, Ngài và chư đệ tử cũng không ăn chay trường, mà dùng những thức ăn do thí chủ cúng dường, dù là có thịt. Miễn là người ăn không trông thấy con vật bị giết, không nghe thấy tiếng nó kêu khi bị giết, và không nghi rằng nó bị giết với mục tiêu cho mình ăn, như thế, những thịt này được gọi là tịnh nhục. Tục lệ đó còn được chư tăng hệ phái Nguyên Thủy duy trì cho tới ngày nay.

Ðối với hệ phái Bắc Tông thì chỉ các tu sĩ mới ăn chay trường, còn cư sĩ tại gia thọ trì Ngũ Giới, thì Giới Sát chỉ cấm giết, chứ không cấm ăn thịt. Tuy nhiên, nhà Phật cũng khuyến khích Phật tử giảm bớt ăn thịt để cho súc vật đỡ bị giết. Vì thế mới có chế độ ăn chay kỳ, thí dụ mỗi tháng ăn chay bốn ngày, gọi là tứ trai, ăn chay sáu ngày, gọi là lục trai, ăn chay mười ngày, gọi là thập trai, ăn chay trọn một tháng gọi là nguyệt trai, vân vân. Tóm lại, đa số Phật tử không ăn chay trường.

Nhưng hiện nay riêng trong nước Mỹ, theo thống kê của hội bảo vệ súc vật, có mười hai triệu người ăn chay trường. Phần đông những người này không phải là Phật tử, họ ăn chay vì lý do sức khỏe, hoặc vì lòng trắc ẩn, thương xót loài vật, không muốn chúng bị đau đớn suốt cuộc đời cho tới lúc chết, chỉ vì lý do mình muốn ăn thịt. Chúng tôi xin trích dịch ý kiến của tác giả David A. Gabbe, viết trong cuốn “Why Do Vegetarians Eat Like That?” như sau:

...”... Thông thường, khi những con bò, bê, heo được chở tới lò sát sinh thì chúng đã phải đứng liên tục, kề vai nhau trên suốt đoạn đường dài dằng dặc. Chuyến đi khiến cho chúng bối rối, kiệt sức, và trong nhiều trường hợp, quá ốm yếu. Ít nhất là suốt một ngày rồi, chúng không được ăn, vì về phương diện kinh tế thì chẳng còn có lợi lộc gì khi cho những con vật ăn bữa cuối cùng, cái bữa mà chúng chẳng còn kịp tiêu hóa khiến cho đồ ăn biến thành thịt trước khi bị giết!

Và trong khi những nhân viên lò sát sinh, có thể vốn không phải là những kẻ ác độc bệnh hoạn từ bản chất, nhưng áp lực của công việc ghê gớm đã khiến cho nhiều người trong số họ trở thành nhẫn tâm đối với những con vật sắp lên đoạn đầu đài. Kết quả là họ tuôn ra hàng tràng la hét giận dữ, và tống những cái đạp, những cái quất lên những con vật bối rối, kinh hoàng. Tụ tập hàng trăm hoặc hàng ngàn, những con vật khiếp đảm chen chúc nhau đứng phía ngoài lò sát sinh, chờ tới phiên mình bước vào cõi chết.

Vẳng nghe tiếng kêu hấp hối thống thiết từ những con vật đi trước vọng ra, bầy gia súc tê dại với hình ảnh của chết chóc. Bây giờ thì chỉ một nhát đập mạnh và một cú điện giật là đủ khiến cho con vật đành phải líu ríu bước vào phòng tàn sát.

Trái với điều có thể quý vị tưởng, không làm gì có cách giết nhân đạo theo chỉ thị! Nhân viên lò sát sinh có thể chọn bất cứ cách giết nào -- thường là cách rẻ tiền nhất --, bất kể là man rợ hoặc tàn ác. Trong nhiều lò sát sinh, những con vật trong cơn kinh hoàng được giáng cho một đòn bất tỉnh bằng một nhát vào đầu -- thường là một thanh sắt bổ xuống sọ --, hoặc bằng một luồng điện giật, hoặc bất cứ cách nào khác, trước khi chúng bị cùm chặt, rút lên cao và bị đâm liên tục vào ngực, cổ, để làm đứt những động mạch chính. Máu phun ra từ nhiều vết thương khiến cho con vật chết lẹ vì cạn kiệt....”...

Trên đây chỉ là trích đoạn ngắn ngủi của bản trường ca bi thảm mà những con vật tội nghiệp phải chịu đựng suốt một cuộc đời. Lão Tử đã nói “Ta khổ vì ta có cái thân”. Chỉ vì có cái thân làm loài vật, mà những con vật đáng thương phải chịu một cuộc đời đầy đọa, đau đớn từ lúc sinh ra cho tới lúc chết.

Nhưng còn những con vật không bị tù tội, được rong chơi bơi lội như loài cá thì sao? Ca sĩ Cao Thái có bài thơ “Con Cá”, như sau:

Tôi là con cá dưới sông
Có cha, có mẹ, có chồng có con
Trông con trông mỏi trông mòn
Trông khi họp mặt coi còn đủ không
Ngày ngày dong ruổi chạy rong
Kiếm ăn đây đó đỡ lòng mới thôi
Bữa kia nghe tiếng con tôi
"Mẹ ơi con đã mắc mồi rồi me”
Lạy Trời lạy Phật chở che
Cho cha cho mẹ cho bè con thơ
Thành người tôi sẽ ước mơ
Kiếp sau sẽ chẳng bao giờ đi câu.

Biết đâu lũ cá chẳng vừa bơi vừa nguyện ước: “Xin cho chúng tôi đừng gặp loài người” ?

Ban Biên Tập

Nguồn: Thư Viện Hoa Sen